TIN TỨC GIÁO DỤC

Tài nguyên dạy học

Sắp xếp dữ liệu

Ảnh ngẫu nhiên

Video_13cailuongEnglish.flv 01_CHUC_MUNG_2011_.jpg KY_NIEM_TRUONG_XUA.swf Trieu_bong_hong.swf 02_BONG_HONG_TANG_CO.swf TIENG_DAN__An_Thuyen_Top_ca.swf TIENG_DAN__An_Thuyen_Top_ca.swf Yeu_lam.jpg O.jpg S.jpg Hj.jpg 83C.swf Dem_dong_loan.swf Happy_new_year.swf Ai__untitled.jpg 20m3.swf Chuc_mung_ngay_phu_nu_Viet_Nam_20__10.flv 571.jpg 0.M_03F.jpg

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang web chúng tôi xây dựng như thế này có được không?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

    • (Phạm Thị Thương Huyền)

    Tinh xa

    CHÂN TRỜI CHỈ MỞ RA CHO NHỮNG AI SAY MÊ HỌC TẬP...

    Chào mừng quý vị đến với CHÂN TRỜI RỘNG MỞ- Phạm Thị Thương Huyền.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nhân vật lịch sử >

    Hai Bà Trưng

    Hai Bà Trưng
    Trong lịch sử vǎn hoá dân tộc Việt Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời và là một chân lý chói ngời trong đời sống tâm linh người Việt. Hai Bà Trưng là tên gọi chung của hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị (có tài liệu nói rằng hai Bà là chị em sinh đôi). Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, hai Bà nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu. Tên của hai bà, có nguồn gốc từ nghề dệt lụa truyền thống của Việt Nam, tương tự như cách đặt tên theo các loài cá của các vua nhà Trần sau này vốn xuất thân từ nghề chài lưới. Xưa kia nuôi tằm, tổ kén tốt gọi là "kén chắc", tổ kén kém hơn gọi là "kén nhì"; trứng ngài tốt gọi là "trứng chắc", trứng ngài kém hơn gọi là "trứng nhì". Do đó, theo sách Danh tướng Việt Nam, tên hai bà vốn rất giản dị là Trứng Chắc và Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi là Trưng Trắc và Trưng Nhị.Hai Bà Trưng, tranh dân gian Đông Hồ.Theo truyền thuyết, mẹ hai Bà thường được gọi là bà Man Thiện (Người Man tốt), là một phụ nữ đảm lược, người làng Nam Nguyễn (Ba Vì, Hà Tây), có chồng mất sớm. Bà đã có công dạy hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị giỏi võ, có tinh thần yêu nước, có chí lớn. Khi hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán, bà Man Thiện luôn luôn có mặt cùng các con bàn việc cơ mật. Bà mất trong thời gian chống Mã Viện. Nhân dân địa phương lập miếu thờ bà, gọi là Miếu Mèn, nay ở làng Nam Nguyễn, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây vẫn còn ngôi mộ cổ của bà. Nhân dân gọi đó là Mả Dạ (tiếng Việt cổ gọi các cụ bà là "dạ").Các sử cũ cũng chép rằng Trưng Trắc là người hùng dũng, can đảm, có chồng là Thi Sách, dòng dõi lạc tướng Chu Diên (miền đất dọc sông Đáy). Đây là kết quả của một cuộc "hôn nhân chính trị", nhân đấy mà liên kết được lực lượng của hai miền đất quan trọng nhất của non sông thời bấy giờ.Lực lượng liên kết ấy là hạt nhân của một cuộc khởi nghĩa đồng loạt, rộng lớn, mãnh liệt, nổ ra vào mùa xuân năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên) nhân việc Thái thú (quan cai trị nhà Hán) ở Giao Chỉ (miền đồng bằng Bắc Bộ) là Tô Định giết hại Thi Sách. Vì các Lạc tướng Mê LinhChu Diên có ý chống lại sự cai trị tàn bạo của Thái thú Tô Định, Định bèn bắt giết Thi Sách.Nhưng nguyên nhân cơ bản của cuộc khởi nghĩa là vì tinh thần yêu nước, giải phóng và khôi phục nền độc lập cho đất nước, chống áp bức, thống trị và nô dịch, đồng hóa của nhà Hán (Trung Quốc) Vào một sáng mùa xuân năm 40, tại đất Mê Linh, Hai Bà Trưng đã làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Trong tiếng trống đồng trầm hùng, âm vang lời thề của Hai Bà trước giờ xuất binh: Một xin rửa sạch nước thù
    Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
    Ba kêu oan ức lòng chồng
    Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này...


    Khởi nghĩa Hai Bà Trưng oanh liệt năm xưa.Tô Định phải chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã quét sạch giặc thù khỏi bờ cõi và được tôn làm vua, đứng đầu đất nước độc lập trong thời gian ba năm.Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang đánh Trưng Vương. Chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng, Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).Đền thờ Hai Bà TrưngTheo tục truyền vào những ngày đầu năm của năm 1160, hai pho tượng đá của Hai Bà trôi về Thăng Long đã báo mộng cho vua Lý Anh Tông, nhà Vua đã sai dựng đền thờ Hai Bà về đất của phường Bố Cái trong kinh đô Thăng Long để tiện cho mỗi lúc dâng lễ Hai Bà. Ngôi đền ban đầu gần kề bờ sông Hồng trên bãi Đồng Nhân, nhưng đến năm 1819 bãi lở, dân làng dời đền vào vị trí thôn Hương Viên tổng Thanh Nhàn, huyện Thọ Xương tức là phường Đồng Nhân quận Hai Bà Trưng như ngày nay.


    Đền thờ Hai Bà Trưng hay còn gọi là đền Đồng Nhân ngày nay.Qua hàng ngàn nǎm lịch sử dân tộc Việt Nam, Hai Bà được mọi thời đại đánh giá là tấm gương anh hùng liệt nữ, niềm tự hào của phụ nữ và đất nước. Đến nay Hai Bà vẫn được bao phong đời đời, lửa hương không dứt tại các đền thờ Hai Bà, tại các di tích khởi nghĩa và liên quan đến cuộc đời Hai Bà như Hát Môn, Hạ Lôi, Đồng Nhân. Suốt gần 2000 nǎm qua tấm gương của Hai Bà được truyền tụng từ em bé hơi sữa đến cụ già tóc bạc. Hai Bà đã trở thành hình tượng lịch sử, vǎn hoá sau khi chết. Hai Bà đã không chết mà đã "Hoá" bay về trời trở thành thần minh - Có truyền thuyết nói Hai Bà lên núi Thường Sơn, hoá thân ở đó. Diễu hành kỷ niệm khởi nghĩa HBT đầu thế kỷ 20.Vùng Hát Môn - nơi phát tích khởi nghĩa có truyền thuyết cho rằng, khi Hai Bà rút quân về cửa Hát, trước lúc gieo mình xuống sông để giữ trọn khí tiết, mỗi Bà ǎn một quả muỗm và nhả hạt mọc lên hai cây muỗm trước cửa đền Hát Môn ngày nay. Dân quen gọi là cây muỗm Hai Bà.Các danh xưng của hai Bà (Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trưng Vương, Hai Bà Trưng) còn được đặt cho nhiều trường học, đường phố, quận... ở Việt Nam. Các câu chuyện về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, và các nữ tướng khác được một số sử gia trích dẫn để làm bằng chứng cho luận điểm rằng xã hội Việt Nam trước khi bị Hán hóa là một xã hội mẫu hệ, trong đó phụ nữ có thể giữ vai trò lãnh đạo mà không gặp trở ngại. Sử gia Lê Văn Hưu đã từng viết: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy”.Diễn kịch Hai Bà Trưng.Đại Nam quốc sử diễn ca có đoạn kể về cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng đã trở thành quen thuộc đối với người Việt:Bà Trưng quê ở Châu Phong
    Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
    Chị em nặng một lời nguyền
    Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân…
    Khi nói đến phụ nữ Việt Nam nêu gương sáng, người Việt Nam không quên nhắc đến Hai Bà Trưng với niềm tự hào sâu sắc. Hai Bà đã thắp lên ngọn lửa chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam - Quyền từ chủ đất nước do Hai Bà mang lại dù ngắn ngủi (Từ nǎm 40 đến 43) song Hai Bà đã khắc hoạ vào lịch sử và tâm thức người dân Việt Nam tấm gương trung nghĩa, anh hùng làm vẻ vang cho nữ giới và dân tộc.
    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thị Thương Huyền @ 20:09 24/09/2009
    Số lượt xem: 1441
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến